Phần 1: Vui buồn chuyện khởi nghiệp

Hơn một năm làm ở Nextcom dự án Quản lý đội xe, thấy làm cái gì dính trực tiếp đến miếng cơm manh áo người ta khó khăn quá, triển khai dự án mà cứ nửa đêm tài xế gõ cửa phòng ngủ, tay thì code mà mắt đã nhắm cực quá nên thôi quyết định đổi sang làm “đồ chơi khoa học”, vô thưởng vô phạt mà “rất chi là khoa học”.

Làm “đồ chơi khoa học” nhưng tiếp xúc và trực tiếp tham gia vào dây chuyền “sản xuất lớn”. Mô hình là bán hàng ở Mỹ, R&D ở Việt Nam, sản xuất ở Việt Nam hoặc Trung Quốc, có nhân viên ở Hồng Kong và Trung Quốc để tìm nguồn giá rẻ chất lượng và điều phối việc chuyển hàng đi khắp thế giới. Lúc đó mình phụ trách phòng R&D, sản xuất ở Việt Nam, Trung Quốc. Dự án thì cũng có nhiều cái rất thú vị nhưng chuyện khó quên là 2-3 đợt xin nghỉ đi du lịch đều có chuyện này nọ phải giải quyết. Như lần đi Phú Quốc, đang nửa đêm thiêm thiếp giấc nồng sếp gọi thông báo có big trouble, hàng đã đóng vào container chuyển từ nhà máy ở Trung Quốc sang cảng Hồng Kong nhưng khách hàng phát hiện issue trong sản phẩm. Đợt đó cũng ‘hên’ có thiết kế backup nên anh em trong team cũng work around để cứu cánh đơn hàng giá trị 100k$ đầu tiên.

Được gần 4 năm thì chí tang bồng hồ thỉ lại thôi thúc tiếp tục sống với những đam mê “nghiên cứu khoa học”, làm những cái mới, cái riêng. Vậy là Nhatrang Hitech ra đời. Và rồi, những khó khăn trên con đường khởi nghiệp bắt đầu từ đó.

Ý định sản phẩm đầu tiên là làm SmartCar, điều khiển xe hơi tắt/mở máy, đóng/mở cửa qua điện thoại bằng Bluetooth. Quen đứa bạn làm ở Ford nên thử nghiệm trực tiếp trên dòng xe này, cũng dăm ba khách hàng tiềm năng, nghiên cứu phát triển, làm mẫu đủ kiểu nhưng cuối cùng chọn sai giải pháp Bluetooth nên lúc sắp demo không được, công sức đổ sông đổ biển, và trăm triệu đồng đầu tiên ngọt ngào chào lời từ biệt.

Thời gian đó phim Transformers 3 sắp ra rạp, cùng lúc với NOKIA X7 ra mắt. Gởi proposal đến NOKIA về mô hình dùng X7 điều khiển Robot chuyển động, đi lại, múa máy vài đường, cũng trông chờ nhưng cuối cùng NOKIA rất hứng thú với ý tưởng còn Megastar thì không, đành ngậm ngùi mất hợp đồng “ngon lành” đầu tiên. Cũng an ủi có được cặp vé xem buổi công chiếu.

Sau đó không lâu thì cơ hội đến thật sự, hợp đồng tổng giá trị đến 50k$ đầu tiên cho công ty mới. 50k$ cho sản phẩm nghiên cứu! Công ty mới, khách hàng nước ngoài! Thiệt là một cơ hội hiếm có!

<Phần sau: Những thất bại đầu tiên>

Posted in myself, Tuổi trẻ | Leave a comment

Những bài học rút ra khi triển khai hệ thống ‘Taxi im lặng’ ở Phương Trang Taxi (PUTA) – 2007

7-8 năm là một khoảng thời gian đủ dài để quên đi một việc ở quá khứ, nhất là những thất bại. Nhưng thiết nghĩ, những kinh nghiệm có được khi triển khai hệ thống ‘Taxi yên lặng’ vẫn có ích cho các công ty công nghệ non trẻ ở Việt Nam trong thời điểm này, nên chia sẻ ở đây để các bạn cùng tham khảo.

——————————————

Cuối năm 2007, Tập đoàn Phương Trang mở thêm dịch vụ taxi ở Đà Lạt, nhập về khoảng 30 chiếc 7 chỗ mới tinh. Lúc đó công ty Viễn Tân (Nextcom) đang triển khai giải pháp Đội quản lý phương tiện công cộng (Nextcom Fleet Management system) vào thực tế ở công ty TNHH Dịch vụ Giao nhận và Vận tải Công Thành và công ty Cổ phần Giao nhận kho vận Hải Dương, giải pháp vừa mới đoạt giải Nhì tại cuộc thi Nhân Tài Đất Việt 2006 và giải nhì cuộc thi Sáng Tạo Công Nghệ Việt Nam năm 2007.  (http://www.pcworld.com.vn/articles/kinh-doanh/giai-phap/2008/03/1192031/nextcom-quan-ly-doi-xe/).

2

Ý tưởng là tạo một hệ thống quản lý đội xe taxi trực tuyến theo thời gian thực, với một số chức năng chính như sau:

-Mỗi xe được gắn một thiết bị định vị có giao tiếp với trung tâm qua GSM/GPRS. Thiết bị này có màn hình hiển thị các tin nhắn từ tổng đài gởi xuống, cho phép giao tiếp với tổng đài bằng các phím hiển thị nhanh hoặc gọi (phone call).

-Khi nhân viên tổng đài nhận cuộc gọi từ khách hàng, và đánh dấu vị trí trên bản đồ, phần mềm sẽ xác định 3 xe không có khách gần nhất và tự động gởi tin nhắn đến 3 xe này. Nếu xe nào xác nhận sẽ đón khách trước tiên thì phần mềm ở tổng đài sẽ ưu tiên cho xe đó và xóa trạng thái ở 2 xe còn lại.

-Khi xe đi đón khách nhận được khách, sẽ chuyển trạng thái sang có khách và không thể nhận được tin nhắn mới từ tổng đài đến khi khách xuống xe.

Giải pháp sẽ loại bỏ hệ thống bộ đàm taxi thường dùng, đưa ra một giải pháp tốt hơn về quản lý đội xe, tránh hiện tượng giành khách, tiết kiệm nhiên liệu (sẽ không có hiện tượng nhiều xe cùng chạy đến đón 1 khách), tránh rủi ro gây tai nạn giao thông khi chạy đón khách (do đua để đến trước tiên thì mới rước khách được –  thấy đuôi thì quay đầu)… về tổng thể thì sẽ tốt hơn cho công ty, và đem lại nhiều lợi ích cho tài xế.

1

Tuy nhiên, nó đối mặt với nhiều thách thức, cả về con người, cách triển khai và công nghệ.

-Hãng xe vẫn tuyển phần lớn tài xế đã lái taxi ở các hãng khác (có kinh nghiệm). Những người này đã quen với hệ thống bộ đàm, nên chuyển sang cách mới khiến họ rất khó chịu và nghĩ là không thể thực hiện được; trong khi những tài xế mới, hoặc chuyển từ lái xe khách, xe hàng qua thì rất ủng hộ. (điều này thể hiện rất rõ qua các buổi training cách sử dụng, các câu hỏi tài xế đặt ra)

-Hãng xe tuyển quản lý trực tiếp đã có kinh nghiệm nhiều năm từ 1 hãng taxi khác, đã quen với hệ thống cũ và không ủng hộ sử dụng hệ thống mới. Mặc dù ban Tổng giám đốc tập đoàn rất ủng hộ nhưng người quản lý trực tiếp không ủng hộ chuyển đổi là một rào cản rất lớn.

-Nhiều tài xế đã sử dụng hệ thống bộ đàm cũ, bây giờ chỉ nhận các tin nhắn khi mình gần điểm khách gọi, không ‘đua’ để giành khách được nên dần không ủng hộ, cố tình sử dụng sai hệ thống như khi nhận khách vãng lai vẫn không báo với tổng đài, hoặc nhấn trả khách khi khách vẫn còn trên xe…

-Về công nghệ thì do quá trình triển khai quá gấp gáp nên không đủ thời gian test hệ thống, nhiều lỗi xảy ra khi vận hành.

-Hệ thống hạ tầng viễn thông không theo kịp với ứng dụng (Mạng không tốt khi có nhiều người sử dụng, ví dụ như dịp lễ Tết).

-Hệ thống bản đồ địa lý (GIS) chưa chính xác, số nhà không chính xác nên nhiều khi vị trí sai trên bản đồ, dẫn đến nhiều rắc rối cho người sử dụng.

-Địa hình Đà Lạt có nhiều đồi núi, dốc nên thông tin GPS không chính xác, nhiều khi xe đang chạy trên đường thì lại thể hiện ở … Hồ Xuân Hương. Open-mouthed smile

Những nguyên nhân chính trên, với nhiều tác động bên ngoài và bên trong, cuối cùng sau vài tháng thử nghiệm, hệ thống taxi im lặng không thể thành hiện thực ở PUTA.

Tựu trung lại, những vấn đề bạn có thể sẽ gặp ở bất kì một dự án nào khi triển khai 1 hệ thống mới, hoặc thay đổi thói quen người dùng:

– Nếu giải pháp công nghệ đi trước sự phát triển của cơ sở hạ tầng sẽ gặp rất nhiều khó khăn về mặt kĩ thuật khi sử dụng.
– Thay đổi thói quen người dùng là 1 vấn đề rất quan trọng, phải diễn ra từ từ để người dùng và đủ dễ có thể tích cực tiếp nhận,
– Điều kiện thực tế của nơi áp dụng giải pháp phải phù hợp với đối tượng giải pháp hướng đến.
– Sự ủng hộ/đồng thuận của ban giám đốc và người chịu trách nhiệm trực tiếp quyết định sự thành bại của dự án.

Hãy cân nhắc lợi ích/thiệt hại trước khi triển khai, nhiều khi sự thành bại được quyết định khi bạn xử lý các vấn đề trên một cách khéo léo.

 

Ghi chú:

-Công ty Viễn Tân đã sát nhận vào công ty Tecapro, hiện vẫn đang phục vụ các khách hàng sử dụng hệ thống định vị (hộp đen) và có nhiều khách hàng lớn. (trang web: nextfms.vn)

-Phương Trang taxi đã chính thức ngừng hoạt động tại Đà Lạt từ 4/12/2012 do hoạt động không hiệu quả.

Posted in Dự án, Sản xuất, Thời cuộc | Leave a comment

Tản mạn chuyện R&D

Những chuyện không đầu không cuối về việc R&D, sản xuất sản phẩm/cung cấp giải pháp Điện tử/công nghệ.

R&D luôn là một vùng đất mạo hiểm nhưng đầy quyến rũ cho những người muốn phiêu lưu, những ‘tay chơi công nghệ’.

Việc hiện thực hóa một sản phẩm, một hệ thống từ ý tưởng là một quá trình đầy thử thách, đòi hỏi lòng đam mê, sự kiên nhẫn, nhiều kiến thức, kĩ năng,…

Có nhiều dự án, mất vài năm để thực hiện, đầu tư rất nhiều, nhưng khách hàng không đón nhận, bán được một vài đợt rồi đi vào quên lãng.

Nhưng lại có những dự án, làm đơn giản, trong thời gian ngắn, đầu tư khiêm tốn, lại bán rất chạy.

Dù có rất nhiều phân tích trước khi quyết định thực hiện một dự án nào đó, nhưng kết quả thực tế của việc R&D và phát triển sản phẩm mới, xét về mặt nào đó, cũng giống như đi câu cá mà thôi. Có lúc cần câu xịn, ao rộng, mồi ngon, người câu có kĩ thuật, mà ngồi từ sáng đến tối chỉ được vài chú cá tẻo teo. Có lúc móc em giun ngo ngoe, mà cứ quẳng xuống cá lại đớp mồi liên tục…

Việc phân tích, dự báo, được tiến hành trước khi dự án thực sự bắt đầu, nghĩa là trước khi ra mắt sản phẩm cả năm, hoặc thậm chí nhiều năm [1]. Trong khi khoa học công nghệ phát triển không ngừng, nên những gì thực tế của 1 năm sau, khi sản phẩm thực sự ra mắt; đã thay đổi rất nhiều, những dự báo trước đó [2] có thể không còn phù hợp nữa. Tệ hơn, sản phẩm của mình chưa ra mắt, đã có người khác giới thiệu sản phẩm tương tự.

Chính điều đó đã khiến cuộc chơi công nghệ thú vị thành một cuộc đua đầy hấp dẫn và khốc liệt.

 

 

Chú thích:

[1]: Với các dự án nghiên cứu phát triển sản phẩm thương mại, thời gian thường dưới 1-3 năm. Với các dự án nghiên cứu công nghệ mới, có thể 5-10 năm sau hoặc lâu hơn mới có ứng dụng.

[2]: Những dự báo, phân tích ban đầu ảnh hưởng rất lớn đến việc thiết kế sản phẩm, dù trong suốt quá trình luôn được cập nhật những dự báo, phân tích tình hình ở hiện tại, nhưng có nhiều vấn đề không thể thay đổi khi đã bắt đầu, vì nếu thay đổi, giống như làm lại 1 dự án khác.

Posted in Dự án | Leave a comment

Chuyện công nghệ và phim ảnh

Năm 2008, khi bộ phim Wanted (Truy sát) công chiếu ở Việt Nam, một người bạn quen nhờ dàn dựng phần giao lưu với khán giả cho buổi ra mắt. Ý tưởng cũng không quá phức tạp, làm 1 lưới các tia laze đan xen nhau, người chơi phải khéo léo lách được các tia này và dùng súng laze bắn vào các mục tiêu định trước của ban tổ chức; ai được điểm cao sẽ thắng. Ý tưởng là vậy, nhưng bàn tới bàn lui vài tuần rồi sát đến ngày công chiếu mà không đi đến kết quả.

Năm 2011, khi Transformer phần 3 công chiếu, đồng thời với buổi ra mắt của Nokia X7, Nokia và Megastar nhờ dàn dựng buổi ra mắt với tiết mục điều khiển Robot từ xa bằng Nokia X7. Cũng trao đổi gần 2 tháng, cuối cùng do đề xuất chỉ điều khiển được robot cao khoảng nửa mét nên mặc dù Nokia đã đồng ý, Megastar vẫn kêu là không giống người thật, sẽ không ‘hoành tráng’. Buổi ra mắt ở Megastar Hùng Vương, người với điệu nhảy robot, không có nhiều điểm nhấn cho sản phẩm.

X7_controls_transformer_car

Nhưng qua chuyện, tự hỏi không biết hiện tại các công ty tổ chức sự kiện hoặc nhà làm phim có nghĩ đến những hiệu ứng như 2 câu chuyện vừa kể, hoặc có biết là họ có thể liên kết với đơn vị chuyên thiết kế để làm các hiệu ứng để buổi ra mắt phim thêm phần hoành tráng, hấp dẫn người xem hay không? Thiết nghĩ, nó cũng là một thị trường thú vị, cho sự sáng tạo và ứng dụng công nghệ vào giải trí. Trong với các phim bom tấn, việc kết hợp với giới thiệu sản phẩm (tài trợ) trong phim (điển hình như phim “Điệp viên 007”, “Fast and furious”…) là rất phổ biến, nên thỉnh thoảng, khi ra mắt phim, sẽ đi kèm với buổi giới thiệu sản phẩm.

Có một sợi dây kết nối khăng khít giữa công nghệ và điện ảnh. Và cái cảm giác khi biết sản phẩm của mình có trong những phim bom tấn như Avatar, cho triệu người chiêm ngưỡng, vạn người sử dụng, thật sự rất khó diễn tả…

Posted in Dự án | 1 Comment

Thiết bị giám sát hành trình – Khái quát về thị trường ở Việt Nam

clip_image002Nghị định 91/2009/NĐ-CP về Kinh Doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô đã đưa ra yêu cầu bắt buộc (Điều 11.3) về việc phải lắp đặt thiết bị giám sát hành trình của xe, quy định này không những giúp các cơ quan nhà nước giám sát và phân tích các dữ liệu thu thập để qua đó tìm cách giảm số lượng tai nạn giao thông ở nước ta, mà nó còn mở ra một thị trường đầy tiềm năng cho các nhà cung cấp thiết bị, dịch vụ giám sát hành trình này.

Bài dưới đây sẽ cho một cái nhìn khái lược về thị trường này ở Việt Nam. Lưu ý: Bài này được thực hiện từ 25/7/2011 nên có thể số liệu không còn chính xác. Hiện tại tác giả không còn làm trong lĩnh vực này nên cũng không cập nhật các thông tin mới.

QUY MÔ THỊ TRƯỜNG

GIÁ TRỊ THỊ TRƯỜNG (MARKET SIZE)

Tổng giá trị bao gồm: phần cứng thiết bị, phần mềm quản lý ở trung tâm hoặc web service, dịch vụ đi kèm (duy trì hoạt động của thiết bị) và các dịch vụ giá trị gia tăng khác.

image

PHẦN CỨNG THIẾT BỊ

Theo số liệu có được, hiện tại cả nước có khoảng 1,796,474 chiếc đang lưu hành (tính đến tháng 5/2011), trong đó có khoảng 400,000-500,000 xe sẽ phải lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (GSHT) theo công văn số 3864/BGTVT-KHCN (lộ trình đến 1/7/2012).

Theo điều tra thị trường, mức giá các thiết bị GSHT của các hãng đã được hợp chuẩn, giá của thiết bị nằm ở mức US$200-US$400, phổ biến ở mức US$300, như vậy, tổng giá trị thị trường cho thiết bị phần cứng: US$300×400,000 = US$120,000,000 ~ 2500 tỉ VNĐ

Giá sản xuất của các thiết bị này nằm ở tầm US$100 (khoảng ¼ đến ⅓ giá bán lẻ), thêm các chi phí về vận chuyển, phân phối, bán hàng,… lợi nhuận có thể thu về ở khoảng US$100/thiết bị, tức là: US$100×400,000 = US$40,000,000 ~ 840 tỉ VNĐ cho cả thị trường. (Giá trị này được tính dựa trên giá thiết bị là US$300, nếu tính luôn phân khúc cao cấp, lợi nhuận thu về có thể hơn 1000 tỉ VNĐ cho cả thị trường)

Nếu đầu tư R&D, hoặc nhận chuyển giao công nghệ để sản xuất thiết bị tại Việt Nam, lợi nhuận cho mỗi thiết bị bán ra có thể nằm ở khoảng US$150, nghĩa là US$150×400,000 = US$60,000,000 ~ 1200 tỉ VNĐ cho cả thị trường (cũng như trên, giá trị này được tính dựa trên giá thiết bị là US$300, nếu tinh phân khúc cao cấp, lợi nhuận thu về có thể lớn hơn 1,500 tỉ VNĐ cho cả thị trường)

clip_image048

DỊCH VỤ ĐI KÈM

Gói cước để duy trì dịch vụ (thường là GSM và GPRS)

  • Phí hòa mạng: 100,000 VNĐ
  • Chi phí sử dụng data hàng tháng:

Nếu mỗi lần gởi về Trung Tâm 256 Bytes data, 3 phút gởi 1 lần. Mỗi tháng (30 ngày):

256 bytes x 30 (ngày) x 24 (giờ/ngày) x 60 (phút/giờ) / 3 (phút/lần) = 3.5Mbytes.

Chi phí duy trì hàng tháng khoảng 25,000 VNĐ.

Chi phí duy trì hàng tháng thu khách hàng thông thường ở khoảng 100,000 VNĐ, có thể đạt thỏa thuận với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông về phí hòa mạng, gói cước riêng về data.

Như thế, có thể có lợi nhuận trên chi phí hàng tháng ở khoảng 50,000 VNĐ.

Tổng chi phí duy trì hàng tháng: 400,000×100,000 = 40 tỉ VNĐ, trong đó 50% được chia cho nhà cung cấp hạ tầng mạng viễn thông, 50% được chia cho nhà cung cấp dịch vụ hộp đen.

Nếu khách hàng lựa chọn sử dụng dịch vụ quản lý online, có thể thu thêm một khoản phụ phí duy trì dịch vụ khoảng 25,000 VNĐ/tháng. Chi phí này hầu hết được chia cho nhà cung cấp dịch vụ hộp đen sau khi khấu hao chi phí xây dựng hệ thống web service ban đầu và chi phí thuê bao dịch vụ Internet hàng tháng (thường là không đáng kể).

Hầu hết khách hàng đơn lẻ hoặc doanh nghiệp nhỏ sẽ chọn dịch vụ quản lý online để không phải đầu tư server tốn kém và phức tạp, chi phí thu về hàng tháng cho việc này ở khoảng: 75,000×400,000=30 tỉ VNĐ.

C DỊCH VỤ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Một số khách hàng (thường là khách hàng doanh nghiệp) có những yêu cầu riêng về quản lý đội xe của họ, ví dụ như thông báo khi đến thời hạn bảo trì, bảo dưỡng thiết bị, thông báo về trung tâm các xe cần theo dõi theo quy định của họ, hoặc thanh toán tiền qua thiết bị, hộp đen đồng thời cũng là thiết bị dẫn đường… với những khách hàng này, chi phí cho thiết bị của họ sẽ tăng thêm tùy theo yêu cầu; đồng thời chi phí để duy trì dịch vụ cũng như quản lý cũng sẽ gia tăng.

Hiện tại chưa đánh giá được quy mô của các dịch vụ đi kèm này nhưng phần này chắc chắn sẽ đem về một phần lợi nhuận đáng kể khi triển khai hệ thống.

TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG

Theo một số báo cáo, tốc độ tăng trưởng phương tiện ở Việt Nam đạt khoảng 12%/năm, nghĩa là khoảng 60,000 xe cần phải lắp thiết bị mỗi năm và liên tục tăng thêm. Chưa kể các xe phải lắp lại thiết bị sau khi quá hạn bảo hành và bị hư hỏng. Đây rõ ràng là một thị trường cực kỳ tiềm năng.

clip_image050

C CÔNG TY ĐÃ CÓ THIẾT BỊ HỢP CHUẨN

Tính đến ngày 4/7/2011, Bộ GTVT đã cấp giấy chứng nhận hợp quy theo quy chuẩn QCVN 31:2001/BGTVT cho 6 loại hộp đen gồm:

  1. Các loại thiết bị BA1-Blackbox của Công ty TNHH Phát triển công nghệ điện tử Bình Anh
  2. XblackBox-A/XBA-A của Công ty TNHH TM điện tử Vinh Hiển (VECOM),
  3. TGPS-1 của Công ty TNHH Viễn Thông TÍT,
  4. H1-2011 của Công ty cổ phần VCOMSAT,
  5. TVS 62 của Công ty cổ phần hợp tác phát triển Công nghệ TVS,
  6. EPOSI GH-11 của Công ty cổ phần Phát triển Công nghệ EPOSI.

C CÔNG TY ĐANG CÓ SẢN PHẨM TRÊN THỊ TRƯỜNG

Một số hãng khác đã tham gia vào thị trường và họ đang cố gắng hợp chuẩn thiết bị:

  1. Viettel
  2. VNPT
  3. Công ty Viễn Tân/Tecapro
  4. ADA
  5. Viet Global

Thế mạnh của Viettel, VNPT là có hệ thống phân phối, bán hàng rộng khắp, việc bảo hành bảo dưỡng giống như điện thoại di động. Họ cung cấp các trang web để người dùng có thể quản lý trực tuyến.

ADA, Viet Global tham gia vào thị trường vào những buổi đầu và xây dựng được uy tín tương đối trong thị trường trong nước.

Hàng Trung Quốc luôn là đối thủ khó chịu về giá, tuy nhiên chất lượng của thiết bị, cũng như yêu cầu về hợp chuẩn là vấn đề của hàng này.

Các hãng đã được hợp chuẩn tất nhiên được ưu thế lớn trong cuộc chiến giành thị phần này. Tuy nhiên, do thời hạn phạt hành chính được dời đến năm 2013 nên thị trường vẫn còn đang rất mở cho các nhà cung cấp mới có khả năng tài chính, uy tín, thương hiệu, mạng lưới bán hàng, dịch vụ tốt.

Tính cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt trong một thời gian còn rất hạn hẹp.

THỊ PHẦN

Với thị trường cung cấp thiết bị có tổng giá trị hơn 2500 tỉ VNĐ và chi phí duy trì dịch vụ hơn 40 tỉ VNĐ hàng tháng, cùng với tốc độ mở rộng thị trường 12%/năm, với khoảng 15 nhà cung cấp dịch vụ, thị phần có thể có được khi một nhà cung cấp dịch cụ mới tham gia vào sân chơi này là bao nhiêu?

clip_image052

Ghi chú: Các hình ảnh minh họa được lấy từ Internet.

Posted in Dự án | Tagged | Leave a comment