Nông nghiệp công nghệ cao

Mùa thu 2012, có dịp đi thăm các công ty làm nông sản/thủy hải sản/chăn nuôi lớn ở Cần Thơ, Đà Lạt để đánh giá xem cơ hội hợp tác với các công ty này về khả năng ứng dụng công nghệ trong quản lý và sản xuất. Tuy nhiên, kết quả sau những đề xuất giải pháp là cái lắc đầu không khả quan, nội dung chính vẫn là:

(1) Bài toán cân nhắc giữa sức lao động nông dân giá rẻ với đầu tư máy móc thường phải đầu tư một vài năm mới hoàn vốn và bắt đầu sinh lời.

(2) Đầu tư công nghệ là cái rủi ro tiềm ẩn trong khi hệ thống cũ vận động bằng sức người và giấy tờ vẫn đang hoạt động được, dù có đôi chút rắc rối và nhiêu khê.

(3) Công nghệ mới phải có sản phẩm để sử dụng thử thay vì chỉ nêu ý tưởng thực hiện và người chủ phải đầu tư thực hiện.

Những hạn chế đó cộng với tình hình công ty mới startup, cũng không dồi dào lắm về nguồn vốn để có thể tự đầu tư chuyển giao cho khách hàng, các dự án đó dần đi vào quên lãng một thời gian dài,…

 

Làn sóng Internet of things gần đây đã đem đến những thay đổi tích cực,  cơ hội cho ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp lại được khơi dậy. Các sản phẩm có giá trị kinh tế, để đạt được hiệu suất cao, con người không thể quản lý theo kinh nghiệm cũ, mà phải đi theo những phương thức mới. Trong chăn nuôi, trồng trọt, cần phải biết được ảnh hưởng của môi trường theo thời gian thực để có thể có những phản ứng/quyết định điều khiển thích hợp, tức thời.

Có thể thấy một số ví dụ tiêu biểu như trồng nấm, nuôi tôm, trồng cây biệt dược có giá trị kinh tế cao… các loại cây có giá trị sẽ làm chi phí đầu tư cho công nghệ trên giá thành đơn vị sản phẩm giảm xuống, và do đó, nhà đầu tư sẽ mạnh dạn hơn trong việc áp dụng công nghệ vào trồng trọt/chăn nuôi. Các ứng dụng không quá phức tạp nhưng đòi hỏi ổn định và tin cậy cao, có thể hoạt động trong môi trường tương đối khắc nghiệp (độ ẩm cao, nước, bụi…) thường phải thỏa chuẩn IP6x.

Cũng có những công ty triển khai quản lý giám sát các yếu tố ảnh hưởng đến trồng trọt, chăn nuôi trên diện rộng, để từ đó học các quy luật phát triển của cây trồng, vật nuôi mà có quyết định phù hợp. Ứng dụng này cũng hứa hẹn bùng nổ thị trường IoT trong thời gian sắp tới, các sản phẩm tiêu biểu như của MimosaTek,…

Một dạng nữa, mà mình đã nhắc đến là nông nghiệp chia sẻ, cũng là một mảnh đất màu mỡ để các thiết bị IoT phát triển.

Nông nghiệp công nghệ cao, một tương lai đầy thử thách đang chờ phía trước.

Posted in Dự án, Sản xuất, Thời cuộc | Leave a comment

Nông nghiệp chia sẻ (trồng rau sạch)

Nền kinh tế chia sẻ, Internet of Things, cách mạng công nghiệp 4.0, big data, AI,… những  xu hướng hiện đại đang từng ngày thay đổi mọi mặt của đời sống.

Hiện nay ở Việt Nam, rau sạch, an toàn vệ sinh thực phẩm trở thành vấn đề cấp bách. Rau sạch đang không đủ để cung cấp cho người dùng, và giá vẫn còn khá cao. Mô hình nào có thể giải quyết được vấn đề đó trong tương lai?

Bài dưới đây đưa ra khái niệm Nông nghiệp chia sẻ trong trồng rau sạch, có thể phù hợp với mô hình sản xuất nhỏ lẻ, nhưng vẫn có thể áp dụng cho mô hình sản xuất lớn của các nông trại.

Thử nêu các vấn đề của rau sạch (và ngon):

-Chứng tỏ nguồn gốc rau sạch, bao gồm nhiều yếu tố, với 1 số yếu tố quan trọng như nguồn giống, nguồn nước, đất, có/không sử dụng phân bón trong quá trình trồng trọt, lịch sử của quá trình trồng trọt, quá trình thu hoạch, đóng gói và vận chuyển từ nơi trồng trọt đến nơi tiêu thụ.

-Điều khiển được được các yếu tố cây trồng như ánh sáng, độ ẩm, nhiệt độ trong đất, không khí,… có thể ảnh hưởng đến chu trình phát triển và điều khiển được chất lượng rau.

 

(1) Nguồn giống:

Cần các trung tâm giống khuyến nghị những giống rau trồng đạt năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu của vùng.

Các trung tâm giống này được đánh dấu vị trí trên bản đồ, giờ làm việc và chất lượng các giống cây trồng, chất lượng phục vụ (do người mua giống đánh giá). Giá bán của các loại giống này có sẵn thông tin trên web/app.

Người trồng trọt cũng có thể lựa chọn dịch vụ vận chuyển giống đến tận nhà (có thu phí) vào giờ cụ thể.

 

(2) Nguồn nước:

Nếu sử dụng mô hình trồng rau tại nhà, nguồn nước chủ yếu là nước máy hoặc nước giếng, các nông trại có thể sử dụng nguồn nước ngầm hoặc nước từ sông/hồ. Hệ thống có thể cập nhật theo thời gian thực chất lượng nước của từng chỗ trồng rau. (công nghê: cảm biến chất lượng nước)

 

(3) Giám sát các thông số môi trường và lịch sử quá trình trồng trọt (công nghệ):

  • Các cảm biến (ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, chất lượng nước,…)
  • Hệ thống camera 24/7, stream online để khách hàng và supplier có thể xem.
  • Hệ thống điều khiển/kiểm soát tự động: tưới nước, ánh sáng, nhiệt độ,…
  • Ứng dụng trên điện thoại/web có thể biết được loại rau được trồng, thời gian bắt đầu trồng, khi nào thu hoạch được, số lượng khi thu hoạch và toàn bộ lịch sử liên quan đến việc phát triển của cây trồng.

 

(4) Mua hàng, vận chuyển và điều phối:

Lựa chọn mua hàng: Khi khách hàng chọn loại rau cần mua, số lượng, từ vị trí của khách hàng sẽ hiển thị các nhà cung cấp gần nhất có thể lựa chọn. Bằng hệ thống theo dõi, đánh giá, kiểm soát chất lượng dịch vụ, giá cả, khách hàng có thể quyết định mua/không mua hàng của 1 nhà cung cấp cụ thể.

Thu hoạch và đóng gói: người trồng thu hoạch và đóng gói sản phẩm theo những quy chuẩn của hệ thống yêu cầu. (Khách hàng có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng hóa không đảm bảo chất lượng hoặc đóng gói không đạt chuẩn)

Vận chuyển và điều phối: khách hàng có thể có những lựa chọn như: giao hàng ngay, giao hàng tiết kiệm, tự đi nhận hàng, và giờ trong ngày có thể nhận hàng. Các lựa chọn này có thể giúp khách hàng tiết kiệm chi phí vận chuyển các gói hàng.

Khách hàng có thể lựa chọn lịch giao hàng cho nhiều đợt hàng khác nhau, để đảm bảo rau được tươi ngon khi sử dụng. Việc đặt lịch trước có thể giảm giá vận chuyển (vận chuyển tiết kiệm)

 

(5) Hệ thống đánh giá chất lượng:

-Đánh giá chất lượng nhà cung cấp giống. Chất lượng giống.

-Đánh giá chất lượng rau.

-Đánh giá chất lượng người cung cấp rau. Thái độ phục vụ.

-Đánh giá chất lượng khách hàng.

 

(6) Dự đoán nhu cầu khách hàng theo thời gian và xu hướng:

Dữ liệu thu thập được từ hệ thống có thể phân tích được nhu cầu khách hàng theo thời gian trong năm, các xu hướng, các sản phẩm nổi bật, dự đoán các sản phẩm sẽ cần trong thời gian tới để người trồng có kế hoạch phù hợp.

Dữ liệu có được từ hệ thống cũng là 1 yếu tố để có thể phân tích ảnh hưởng thức ăn đến sức khỏe của người dùng. (khi phối hợp với ứng dụng khám bệnh)

 

Với việc đưa ra các gói chuẩn về công nghệ, sự dễ dàng tiếp cận việc trồng trọt bằng công nghệ cao, tiếp cận với nguồn khách hàng thế hệ smartphone, trong tương lai gần, nông nghiệp chia sẻ sẽ là một sản phẩm phổ biến, khi nhà nhà đều có thể tự lựa chọn loại rau trồng của mình, để tự cung tự cấp, để chia sẻ với cộng đồng, tiết giảm khâu trung gian từ nơi cung cấp đến nơi tiêu thụ, mở ra thị trường lớn,…

Posted in Dự án, Thời cuộc | Leave a comment

Khởi nghiệp phần cứng

Làn sóng Internet of things và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy con người có những sáng tạo mới,để đem đến nhiều tiện nghi hơn, tiết kiệm chi phí, tối ưu về năng suất… trong mọi lĩnh vực đời sống, sản xuất, y tế, nông nghiệp, vận tải, bán lẻ, năng lượng….

Một phần quan trọng trong cuộc cách mạng này là sáng tạo các thiết bị (điện tử),cùng với phần mềm cho nó và hệ thống các dịch vụ đi kèm (như website, ứng dụng điện thoại…) để phục vụ các nhu cầu trên.

Ví dụ như ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, bạn cần biết nhiệt độ, độ ẩm, cường độ ánh sáng,… của môi trường sống của cây, qua đó điều khiển nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng phù hợp để tối ưu hóa điều kiện cây trồng, nhằm đem đến hiệu quả cao nhất; thì phần thiết bị cảm biến để đo các thông số trên, hoặc bộ điều khiển các thông số trên là “phần cứng” cần phải có trong hệ thống, cùng với phần mềm điều khiển trên máy tính/điện thoại.

 

Vậy, việc thiết kế một sản phẩm điện tử như vậy có phức tạp không? Để giúp các bạn khởi nghiệp phần cứng mau tiếp cận với vấn đề, mình thử đưa ra các bước tiến hành:

(1) Idea: Bạn có ý tưởng sản phẩm, hoặc ý tưởng từ khách hàng. Hãy phác thảo nó ra thành những tính năng, kiểu dáng, điều này quan trọng để có thể bắt đầu thiết kế một sản phẩm phần cứng. Tất nhiên, bạn sẽ phải giải quyết bài toán ý tưởng đó phục vụ nhu cầu nào của cuộc sống, sản xuất,…. Có khả năng đem lại lợi nhuận như thế nào?… Ở đây mình chỉ nói thuần về kĩ thuật, với giả thiết các điều trên đã được phân tích đầy đủ.

(2) Proof of concept: Đối với các sản phẩm có công nghệ phức tạp, cần giai đoạn này để chứng tỏ sản phẩm có thể hoạt động được theo ý tưởng. Giai đoạn proof of concept có thể cần thời gian để nghiên cứu, phát triển, thí nghiệm chứng minh tính khả thi. Nó có ý nghĩa quan trọng, ý tưởng đó về sản phẩm có thể thực hiện được chứ không phải “viễn vông”

(3) Prototype: Khi ý tưởng được chứng minh là khả thi, bạn sử dụng các tài nguyên sẵn có để thiết kế lên mẫu thử có thể hoạt động được, với các tính năng cơ bản. Thị trường điện tử ở Việt Nam hiện tại tương đối phát triển, đủ để bạn có thể mua linh kiện, kít phát triển,… nếu không, cũng dễ dàng mua được ở các hãng điện tử/linh kiện trên thế giới. Các bạn nên sử dụng hàng chính hãng và được bảo đảm về chất lượng để làm các mẫu thử, như vậy sẽ giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra. Ở giai đoạn này, bạn cũng phát triển firmware (phần mềm cho thiết bị có thể hoạt động), software, website, application ở mức cơ bản.

(4) Sample: Khi mẫu thử hoạt động tốt, bạn chuyển qua giai đoạn làm mẫu sản phẩm, chú trọng đến kiểu dáng công nghiệp, thiết kế nguyên lý mạch điện sao cho phù hợp với kiểu dáng công nghiệp. Máy in 3D có thể giúp ích cho khâu tạo mẫu (hiện tại ở Việt Nam đã có một số đơn vị gia công in 3D). Lưu ý kiểu dáng công nghiệp rất quan trọng, mẫu mã quyết định phần lớn đến ý định mua hàng.

(5) Production sample: ở giai đoạn này bạn tối ưu hóa về thiết kế board mạch, đã chọn được thiết kế công nghiệp vừa ý, bắt đầu làm khuôn mẫu cho sản phẩm. Khuôn nhựa ở Việt Nam có rất nhiều nhà cung cấp và cũng đủ các mức chất lượng khác nhau để bạn có thể lựa chọn tùy vào chi phí và chất lượng sản phẩm mình mong muốn. Ở giai đoạn này, bạn cũng hoàn thiện hệ thống phần mềm, website, ứng dụng điện thoại để kết nối với thiết bị phần cứng.

(6) Hợp chuẩn: Để bán được sản phẩm cho các thị trường như châu âu, Mỹ,… sản phẩm cần đạt các chuẩn tương ứng về an toàn (như ETL/UL/CE) về môi trường (như RoHS), về tần số (như FCC),… sản phẩm cho đo lường, y tế,… còn có nhiều tiêu chuẩn khác cần phải được kiểm nghiệm ở các lab độc lập để có chứng nhận. Các tiêu chuẩn này ảnh hưởng đến thiết kế của sản phẩm.

(7) Product:  khi đã ra được mẫu thử sản xuất đạt yêu cầu, là đến giai đoạn sản xuất, chọn nhà máy sản xuất, nhà cung cấp linh kiện, setup quy trình sản xuất, đóng gói sản phẩm. Dây chuyền sản xuất cho các công ty nhỏ/startup (vài trăm đến vài chục ngàn sản phẩm) nên làm ở Việt Nam để tối ưu chi phí; linh kiện nên mua chính hãng (hiện tại đã có nhiều hãng linh kiện điện tử ở Việt Nam) để giảm thiểu sai sót; trên dây chuyền phải setup các điểm test QC theo các tiêu chuẩn trong sản xuất để đảm bảo chất lượng sản phẩm khi đến tay người tiêu dùng.

 

Hooray, giờ trên tay bạn đã cầm một sản phẩm phần cứng do chính mình thiết kế, hệ thống phân phối và bán hàng sẽ làm tiếp phần việc của họ để đưa sản phẩm đến người dùng.

 

Xem thêm các bài viết về chủ đề sản xuất (hàng điện tử): http://blog.khvt.com/category/production/

Posted in Sản xuất | Leave a comment

Vừa đi đường vừa kể chuyện – Phần 10: Vấn đề khuôn mẫu

Như có nói ở bài Việc sản xuất một sản phẩm điện tử, để sản xuất một sản phẩm điện tử, cần sự phối hợp của nhiều yếu tố, trong đó khuôn mẫu, hộp nhựa, quyết định hình thức của sản phẩm, là một trong những yếu tố quan trọng.

Có 2 hướng tiếp cận chính cho bài toán khuôn mẫu, linh hoạt theo từng tình huống:

(1) Đối với các sản phẩm sản xuất với số lượng nhỏ, nếu phải đầu tư khuôn mẫu là vấn đề không đơn giản, do chi phí khuôn mẫu khá cao (từ vài ngàn đến vài chục ngàn đô/ 1 khuôn, 1 sản phẩm có thể cần nhiều khuôn mẫu); do đó, nếu phải đầu tư khuôn mẫu, giá thành sản phẩm sẽ tăng. Chúng ta nên giải bài toán ngược, nghĩa là chọn 1 hộp mẫu sẵn có trên thị trường tương đối phù hợp với sản phẩm, chỉnh sửa một chút rồi thiết kế board mạch theo hộp đó. Với giải pháp này, ta thường chọn các hộp cơ bản (hộp nhựa hình hộp chữ nhật, hộp nhôm ‘đùn’ có chiều rộng kích thước tiêu chuẩn, chiều dài tùy ý…)

(2) Đối với các sản phẩm số lượng lớn (vài chục ngàn sản phẩm trở lên) hoặc sản phẩm đặc thù cần phải làm khuôn mẫu, quy trình nên là: (i) thiết kế ý tưởng cho khuôn mẫu sản phẩm, nên có vài thiết kế khác nhau, sau khi chọn được những sản phẩm ưng ý và phù hợp nhất, (ii) thiết kế mẫu mockup, mẫu mockup có thể dùng máy CNC hoặc máy in 3D,… để tạo. Sau đó lựa chọn thiết kế cuối từ các mẫu thật, chỉnh sửa lần cuối để (iii) làm khuôn.

Với công nghệ hiện tại thì in 3D sản phẩm nhựa thường có 2 dạng: in bằng bột nhựa hoặc in bằng sợi nhựa, in sợi nhựa thì giá sẽ rẻ hơn nhưng sản phẩm sẽ không đẹp và mịn bằng bột nhựa, với công nghệ in 3D có thể thỏa mãn được phần lớn yêu cầu làm mockup/prototype.

Việc thiết kế khuôn mẫu cũng có nhiều công cụ hỗ trợ, nhờ các phần mềm mô phỏng, bạn có thể đánh giá được điểm yếu nhất của sản phẩm, các chỗ mở khuôn, đường nhựa… để có thể thiết kế khuôn mẫu phù hợp nhất cho sản phẩm của mình.

Các công ty ở Việt Nam hiện nay đã có thể làm được các khuôn ép nhựa phức tạp, tinh xảo, trong suốt… với mức giá và chất lượng dao động trong một tầm rộng, tùy vào khả năng tài chính và yêu cầu sản phẩm, bạn có thể lựa chọn được đối tác phù hợp.

 

Như ở Nhatrang Hitech, sản phẩm như Máy chấm công (vài chục sản phẩm) sử dụng hộp nhựa sẵn có, OTPSAFE (vài chục sản phẩm) sử dụng hộp nhôm sẵn có trên thị trường, đèn LED y tế – thị trường Việt Nam – kính lúp, hộp nhựa chọn nhà làm khuôn/ép nhựa tầm trung, SmartSafe (vài ngàn sản phẩm) – thị trường Việt Nam – chọn nhà ép nhựa tầm trung. HiBricks định hướng sản phẩm chất lượng nên được thiết kế bài bản như nói ở (2).

Posted in Cảm xúc | Tagged | Leave a comment

Phần 2: Những thất bại đầu tiên

50k$ bắt đầu từ đâu? Vài trang proposal, vài email, vài lần trình bày, khi đã tin rồi thì gặp mặt, nói chuyện, trao đổi các vấn đề liên quan và không liên quan đến dự án. Thiết nghĩ, việc khách hàng quyết định đầu tư phần lớn dựa vào sự đánh giá chủ quan, mức độ tin tưởng hay trực giác của họ về đối tác sẽ cùng làm, vì nói cho cùng, có chắc mình sẽ làm được việc hay không còn là một câu hỏi bỏ ngỏ. Theo kiểu dân gian, quan trọng là ‘có duyên’ với nhau trước đã! Tuy nhiên, một số việc sau đây nghĩ là quan trọng:

  • Tác phong luôn nghiêm túc, phải luôn luôn đúng giờ, không sớm quá, không trễ, nếu trễ phải thông báo trước là trễ bao lâu.
  • Có và thể hiện được mình có kiến thức sâu rộng về lĩnh vực đang tham gia, nắm vững và tự tin để trao đổi các ý tưởng. Tuy nhiên, phải thành thật với bản thân và với nhà đầu tư, đừng quá hăng khí thế mà ‘chém gió bẻ măng’, cái nào biết thì nói biết, cái nào không biết thì nói không biết, suy luận hợp lý nhưng đừng võ đoán.
  • Xây dựng được mạng lưới các mối quan hệ về công việc và lĩnh vực liên quan, để khi nói chuyện có thể nhắc đến những người đôi bên cùng biết, cũng như cách giải quyết công việc khi cần nhờ đến các hỗ trợ bên ngoài (không ai tự mình làm hết được tất cả mọi việc, phải không nào?).

Ở đây chưa nói đến ý tưởng sản phẩm có khả thi hay không, có thị trường hay không? <sẽ nói đến ở phần các giai đoạn sáng tạo trong phát triển sản phẩm> Khách hàng nêu vấn đề, mình trình bày giải pháp và thuyết phục được họ đầu tư, coi như thành công bước đầu.

Làm gì với số tiền ước tính sẽ sử dụng (được đầu tư):

  • Xây dựng cơ sở phòng ốc và trang thiết bị ban đầu.
  • Thuyết phục những anh em có ‘máu mặt’, có kiến thức về sản phẩm trong network về cùng hợp tác làm.
  • Cố gắng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho anh em làm việc, giao cho anh em chịu trách nhiệm về sản phẩm.
  • Kêu gọi hỗ trợ của các nhà cung cấp/phân phối cùng hỗ trợ phát triển sản phẩm.

Thực tế đã làm vậy, nghe có vẻ hợp lý và đúng đắn; tuy nhiên sai lầm bắt đầu ở đó.

  • Không theo mô hình tinh gọn khi startup, thay vì kiếm 1 chỗ được miễn phí chi phí thuê mặt bằng (thời điểm đó có nhiều lời đề nghị để có chỗ miễn phí) thì lại đi thuê mặt bằng – tốn kém lần thứ nhất.
  • Hăm hở trang bị cơ sở vật chất cho chỗ làm việc mới– tốn kém lần thứ hai.
  • Không dễ để các anh em có ‘máu mặt’ làm cùng với nhau, và khi không phải là người cuối cùng chịu trách nhiệm về sản phẩm đang phát triển, sản phẩm dễ phát triển khác định hướng ban đầu và không kiểm soát được về thời gian.

Rồi mọi chuyện bắt đầu phát sinh, đời không như là mơ:

  • Trưởng phòng R&D gặp việc gia đình xin nghỉ.
  • Kỹ sư thiết kế chính xin nghỉ để theo đuổi ước mơ riêng.
  • Bạn điều phối dự án xin nghỉ vì có baby.

Lúc dầu sôi lửa bỏng hầu như cả team chính lần lượt ra đi vì những lý do không thể từ chối. Làm hardware có cái phũ phàng là không dễ kế thừa, mỗi lỗi sai có thể phải trả giá bằng việc làm lại mẫu thử, mà mỗi mẫu thử lại phải tốn tiền và thời gian để làm.

Giờ làm gì đây, tiền dự án đã đầu tư gần hết, những người chính tin tưởng trao số phận lại lần lượt rủ nhau ra đi đúng lúc cần họ nhất?

Nghĩ về quãng đường đã qua, khoản tiền đã dùng,

Nghĩ về những người đã tin tưởng đầu tư,

Nghĩ nếu mình bỏ ngang,

Nghĩ danh dự, uy tín người Việt có suy giảm thêm nếu mình từ bỏ

Nghĩ về những anh em còn đồng lòng ở lại cùng công ty vượt qua khó khăn,

Nghĩ mình có thể làm tiếp đến thành công không?

Nghĩ về khoản tiền sắp tới cần có nếu tiếp tục làm,

Nghĩ về nhiều thứ mông lung…

Trải qua nhiều ngày đêm căng thẳng. Nghĩ về con đường đang đi, con đường đã chọn, về nhiều ngã rẽ khác.

Rồi trở dậy mạnh mẽ, quyết định không thể từ bỏ, thông báo với khách hàng về tình hình thực tế, xoay sở mọi cách để kiếm tiền tiếp tục chiến đấu, lên tinh thần cho anh em còn lại, phát triển sản phẩm theo định hướng ban đầu. Liên tục 3-4 tháng cũng xong cơ bản, khách hàng cuối cùng cũng hài lòng về sản phẩm. Tinh thần nhẹ nhõm nhưng cục nợ ngang ngửa 50k$ bắt đầu xuất hiện. Hi vọng sản phẩm thương mại để có thể kiếm phần trả lại các khoản vay nhưng thời thế đổi thay, tình hình thị trường thay đổi, sản phẩm chưa/không phù hợp nữa nên nhà đầu tư tạm gác lại.

Hết năm rưỡi khỏi nghiệp, 50k$ đầu tư đã xài hết và ghi nợ thêm 50k$ nữa, đời không như là mơ, nghiên cứu khoa học không chỉ là các con số, hình vẽ. Bài học khởi nghiệm đầu tiên cũng đắt đỏ phếch!

Cười nhạt, thôi đành: Cơm áo không đùa với khách thơ…

<Phần tiếp: Các giai đoạn sáng tạo sản phẩm>

Posted in myself, Tuổi trẻ | Leave a comment